Thuế tài sản

Thuế tài sản là gì? Phương pháp đánh thuế tài sản

1. Khái niệm, đặc điểm thuế tài sản

a. Khái niệm về tài sản

Đề cập đến khái niệm tài sản, Bộ luật dân sự năm 1995 (điều 172) xác định :”Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản”

Tài sản là vật có thực, khái niệm này luôn biến đổi và hoàn thiện theo quan niệm về giá trị vật chất của văn minh loài người và theo quan điểm tài sản của kinh tế học. Trong xã hội cổ đại, của cải là ruộng đất, gia súc, nô lệ, mùa màng… Trong xã hội hội hiện đại những thứ như sóng vô tuyến, năng lượng nguyên tử, bản quyền tác giả, kỹ năng, tên miền, thương hiệu… cũng là tài sản.

– Mọi tài sản phải được tiền tệ hóa, thì lúc đó hình thái hữu hình hay vô hình của tài sản mới được nhận diện. Và sự chuyển nhượng, đền bù, mua bán tài sản vô hình lúc đó mới thực hiện được.

– Quyền tài sản theo Luật dân sự (điều 188) xác định “ là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”. Quyền tài sản luôn bắt nguồn từ quyền sở hữu, từ đó phát sinh quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền được hưởng những lợi ích do quyền sở hữu đem lại.

Như vậy tài sản không phải là khái niệm bất biến mà nó được biến đổi và hoàn thiện theo quan niệm về giá trị vật chất. Vì vậy, cần phải hiểu các khái niệm có liên quan đến khái niệm tài sản:

– Tài sản là của cải dưới dạng hữu hình hoặc vô hình được lượng giá. Vì vậy, nó có thể dùng để giao dịch trên thị trường để đem lại lợi ích cho chủ sở hữu.

– Tài sản luôn gắn liền với quyền sở hữu. Luật pháp thừa nhận quyền sở hữu mà không quan tâm đến nguồn gốc tài sản nhằm bảo vệ quyền tài sản của công dân. Nhờ đó chủ sở hữu có thể nhường quyền sử dụng tài sản cho người khác sử dụng nhằm thu được lợi ích cho cả đôi bên mà không ảnh hưởng đến quyền sở hữu.

– Tài sản khác với thu nhập và vốn. Thu nhập là lượng của cải mà chủ thể thu được trong một thời kỳ nhất định; còn tài sản tại một thời điểm có bao gồm tất cả các thu nhập trong quá khứ. Tài sản sẽ trở thành vốn khi nó tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, còn tài sản cất giử không dùng vào kinh doanh sinh lời thì chỉ là vốn tiềm năng.

Thuế tài sản

2. Thuế tài sản và đặc điểm

Thuế tài sản là tên gọi để chỉ các sắc thuế lấy tài sản làm đối tượng đánh thuế. Đây là loại thuế được ra đời sớm nhất trong lịch sử nhân loại. Hình thức thuế tài sản đầu tiên là thuế đất. Ban đầu đất đai là tài sản duy nhất có giá trị được chọn làm đối tượng tính thuế. Dần dần cùng với sự phát triển, nhiều tài sản khác cùng xuất hiện và đem lại lợi ích và từ đó hình thành các sắc thuế tài sản khác.

Thuế tài sản được thể hiện dưới nhiều hình thức với tên gọi khác nhau như thuế mua tài sản, thuế nhà, thuế đất, thuế đăng ký tài sản, thuế chuyển nhượng tài sản…

Đặc điểm của thuế tài sản :

Thuế tài sản là loại thuế dựa trên quan điểm đánh thuế theo lợi ích.

Những người được hưởng lợi ích nhiều thì phải nộp thuế nhiều hơn.

Điều này xuất phát từ thực tế là nhiều loại tài sản được bảo tồn, phát triển và sinh lợi là do được thừa hưởng rất nhiều từ các dịch vụ công cộng của nhà nước. Ví dụ, giá trị đất có thể tăng lên rất nhiều nhờ việc mở đường, phát triển hệ thống điện, nước, điên thoại, các công trình vui chơi giải trí… mà không cần một sự đầu tư nào của chủ sở hữu. Bên cạnh đó, nhà nước bảo vệ tài sản của chủ sở hữu bằng cách công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, quyền thừa kế, bảo vệ tài sản trong trường hợp bị mất cắp…Như thế, người có tài sản cần phải đóng góp một khoản tiền nhất định cho nhà nước để thực hiện các chi phí công cộng. Từ luận điểm này, việc đánh thuế tài sản thường được xem xét trên giá trị lợi ích khác nhau về các dịch vụ công cộng mà từng chủ tài sản đã được hưởng.

Thuế tài sản mang tính chất là loại thuế hổ trợ cho thuế đánh trên thu nhập. Thu nhập từ tài sản thường khó xác định được nếu chủ sở hữu cố tình che dấu; trong khi tài sản dù là động sản hay bất động sản khó mà che dấu được. Thuế đánh vào tài sản cho phép khai thác hết khả năng của người nộp thuế. Điều này, còn góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế vì nó khuyến khích chủ sở hữu tài sản sử dụng tài sản có hiêu quả nhất. Thuế tài sản chỉ động chạm đến một phần thiểu số dân cư thuộc diện giàu có nên dễ được sự đồng tình ủng hộ của đại đa số người dân.

Thuế tài sản là trong những biện pháp can thiệp của nhà nước trong việc giải quyết sự bất công bằng về phân phối tài sản giữa các tầng lớp dân cư.

Thông thường sự bất bình đẳng về phân phối tài sản dễ nhận thấy hơn trong phân phối thu nhập và tiêu dùng. Biện pháp để điều chỉnh sự bất bình đẳng thông qua phân phối tài sản là đánh thuế tài sản. Với quan điểm này, đòi hỏi thuế tài sản phải đáp ứng được yêu cầu là đánh trên tất cả các tài sản chứ không phải chỉ đánh trên một số loại tài sản; và giá tính thuế phải là giá trị tài sản ròng chứ không phải là tổng giá trị tài sản.

Thuế tài sản là thứ thuế có thể phục vụ yêu cầu điều chỉnh mối quan hệ hợp lý giữa tiêu dùng, đầu tư và tiết kiệm của các chủ thể trong nền kinh tế.

Do việc đánh thuế tài sản sẽ làm hạn chế ý thích tiết kiệm, tích lũy bằng tài sản và khuyến khích tăng tiêu dùng hoặc đầu tư sản xuất, kinh doanh nên có thể sử dụng thuế tài sản để góp phần kích cầu, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội

Thuế tài sản, đặc biệt là loại thuế đăng ký, thường dễ thu. Thuế đăng ký tài sản là loại thuế dễ thu vì loại thuế này được xây dựng phù hợp với tâm lý của người có tài sản, muốn được xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp và bảo hộ đối với một số tài sản có giá trị.

Những đặc điểm của thuế tài sản cũng chính là những lập luận để ủng hộ quan điểm cần thiết phải đánh thuế tài sản. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu đã phản đối việc đánh thuế tài sản với nhứng lập luận chủ yếu là :

– Tài sản được hình thành trong quá trình tích lũy thu nhập đã từng bị đánh thuế thu nhập; khi mua sắm tài sản, đã chịu thuế tiêu dùng, thuế trước bạ…Như vậy, nếu thu thuế tài sản thì thuế bị đánh trùng lắp.

– Việc đánh thuế trên tài sản vật chất cất giữ mà những tài sản này không tạo ra thu nhập mới nên đã mang tính chất tước đoạt một phần tài sản của chủ sở hữu. Về lâu dài có thể chủ sở hữu không thể nắm giử được tài sản.

– Thuế tài sản có thể gây ra những tác động không tốt về hiệu quả kinh tế.

Nếu thuế suất không hợp lý sẽ làm nãn lòng việc đầu tư mua sắm tài sản hoặc không muốn đưa tài sản vào đầu tư.

– Về mặt quản lý, thuế tài sản gặp nhiều khó khăn, phứt tạp vì khả năng che dấu tài sản và che dấu giá trị thực của tài sản là rất lớn. Điều này dễ dẫn đến tính trạng không công bằng về nghĩa vụ nộp thuế giữa những người có tài sản giá trị như nhau.

Mặc dù vậy, hiện nay đa số các quốc gia vẫn duy trì thuế tài sản và thường tạo nguồn thu nhập quan trọng cho ngân sách địa phương.

Xem thêm: Biên bản bàn giao TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành thông tư 200

3. Phương pháp đánh thuế tài sản

Bao gồm 2 phương pháp: Đánh thuế trên tất cả các tài sản và vào một bộ phận tài sản

3.1. Đánh thuế trên tất cả các tài sản

Theo phương pháp này, đối tượng đánh thuế tài sản là tất cả các loại tài sản mà một chủ sở hữu có được (gồm cả bất động sản và động sản). Trị giá tài sản chịu thuế là giá trị tài sản ròng, là khoản chênh lệch giữa tổng giá trị các tài sản và các chi phí, tiền vay tạo thành tài sản đó.

Hình thức thuế của cải đánh trên giá trị tài sản ròng thường thích hợp trong điều kiện xã hội có mức thu nhập GDP bình quân đầu người cao, khu vực kinh tế tư nhân phát triển, tài sản có sự tập trung quá mức vào một nhóm người giàu có dẫn đến khoảng cách chênh lệch quá mức giữa giàu và nghèo.

Loại thuế này thường được áp dụng ở các nước OECD.

Thuế suất thường sử dụng hình thức thuế suất lũy tiến. Mức độ lũy tiến phụ thuộc vào mức độ tập trung tài sản trong xã hội cao hay thấp vào một nhóm người giàu có nhất định. Nếu khoảng cách chênh lệch giàu nghèo quá lớn thì mức lũy tiến cần thiết kế cao hơn; ngược lại, mức lũy tiến vừa phải hoặc đôi khi không cần sử dụng loại thuế suất này.

3.2. Đánh thuế vào một bộ phận tài sản

Theo phương pháp này, đối tượng đánh thuế tài sản chỉ là một bộ phận trong toàn bộ tài sản của chủ sở hữu.

Có hai hình thức thuế phổ biến khi tính theo phương pháp này:

– Thuế bất động sản. Đối tượng nộp thuế là chủ sở hữu đất, nhà và bất động sản khác. Thuế suất thường là thuế suất tỷ lệ áp dụng trên trị giá tài sản chịu thuế, với mức động viên thấp và chỉ mang tính chất quản lý. Thuế bất động sản thường được giao cho các cấp chính quyền địa phương quản lý và thu vào ngân sách địa phương.

– Thuế đánh một lần vào tài sản khi chuyển dịch quyền sở hữu. Thuế được thực hiện khi đối tượng nộp thuế cần có chứng nhận quyền sở hữu khi mua bán, thừa kế, chuyển dịch động sản hoặc bất động sản. Thuế chỉ đánh một lần khi đăng ký quyền sở hữu, mức thuế thường là thuế suất tỷ lệ tính trên giá trị giá tài sản chịu thuế hoặc là định suất thuế (giá trị tuyệt đối) theo đơn vị tài sản.

Mức thuế cao hay thấp tùy theo yêu cầu và mục đích điều tiết: Áp dụng mức thuế thấp nếu ngoài việc nộp thuế chuyển dịch quyền sở hữu, hàng năm còn phải nộp thuế tài sản. Áp dụng mức thuế cao nếu chỉ chịu một lần thuế tài sản khi đăng ký. Giá tính thuế tài sản thường được căn cứ theo giá thị trường tại thời điểm đánh thuế tài sản. Một số trường hợp khó xác định giá thị trường thì áp dụng giá tính thuế do nhà nước qui định.

Nguồn thu từ các loại thuế đăng ký tài sản khi chuyển dịch quyền sở hữu thuộc các cấp ngân sách, trong đó có một phần cho ngân sách địa phương.

>>> Xem thêm: học khóa kế toán ngắn hạn ở đâu

Thuế tài sản là gì? Phương pháp đánh thuế tài sản
5 (100%) 2 votes

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *