Các công ty bảo hiểm

Các vấn đề liên quan trực tiếp đến công ty Bảo hiểm

Hiện nay, thị phần cạnh tranh của lĩnh vực Bảo hiểm ngày càng tăng lên, do đó vị thế của các công ty bảo hiểm cũng ngày càng nâng cao. Tuy nhiên, nhiều công ty Bảo hiểm muốn hoạt động vững chắc trên thị trường nhưng lại gặp nhiều vấn đề bất cập liên quan đến luật, hình thức kinh doanh, hay các đối thủ kinh doanh khiến họ loay hoay trong cách xử lý. Dưới đây là một số vấn đề cơ bản mà một công ty Bảo hiểm cần nắm vững khi hoạt động trong thị trường.

I. Bảo hiểm là gì?

1. Bảo hiểm

Bảo hiểm là biện pháp chuyển giao rủi ro được thực hiện thông qua hợp đồng bảo hiểm, trong đó bên mua bảo hiểm chấp nhận trả phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

2. Công ty Bảo hiểm

Công ty bảo hiểm là trung gian tài chính thực hiện nhiệm vụ chi trả cho các sự kiện không mong đợi xảy ra. Là tổ chức huy động vốn bằng cách bán chứng nhận bảo hiểm cho công chúng và và sử dụng nguồn vốn huy động được để đầu tư trên thị trường chứng khoán.

II. Vai trò của Bảo hiểm

1. Vai trò xã hội của bảo hiểm

Thứ nhất , Bảo hiểm tác động đến công tác phòng tránh rủi ro, hạn chế tổn thất, đảm bảo an toàn xã hội.
Nghề nghiệp bảo hiểm đòi hỏi các tổ chức bảo hiểm có trách nhiệm nghiên cứu rủi ro, thống kê tai nạn, tổn thất, xác nhận nguyên nhân, đề ra và phối hợp các ngành, các đơn vị có liên quan thực hiện kiểm soát, ngăn ngừa rủi ro, giảm thiểu tổn thất. Hàng năm các doanh nghiệp bảo hiểm đều dành ra một khoản tiền trợ giúp hoặc cùng các cơ quan thực hiện các biện pháp phòng tránh.

công ty bảo hiểm nhân thọ
Thứ hai, Bảo hiểm tạo nên lối sống tiết kiệm và mang đến trạng thái an toàn về tinh thần cho xã hội.
Đây chính là ý nghĩa nhân văn của bảo hiểm trong xã hội hiện đại. Sự tồn tại của thị trường bảo hiểm đã tạo ra một hình thức tiết kiệm linh hoạt, tác động đến tư duy của các cá nhân, chủ hộ gia đình, chủ doanh nghiệp khiến họ có được một ý thức, thói quen về việc dành ra một phần thu nhập để trả phi bảo hiểm với mục đích sẽ có một tương lai an toàn. Bên cạnh đó vượt lên cả ý nghĩa tiền bạc, bảo hiểm đã mang đến trạng thái an toàn về tinh thần, giảm bớt sự lo âu trước rủi ro, bất trắc cho những người được bảo hiểm. 
Thứ ba, Bảo hiểm tạo thêm việc làm cho người lao động.
Sự phát triển của hoạt động bảo hiểm có vai trò vĩ mô quan trọng trong vấn đề giải quyết việc làm cho xã hội. Thị truòng bảo hiểm đã thu hút một lực lượng lớn lao động làm việc tại các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, mạng lưới đại lý và các nghề nghiệp liên quan như giám định tổn thất, định giá tài sản, giám định sức khỏe…..Trong điều kiện thất nghiệp đang ám ảnh nền kinh tế toàn cầu thì sự phát triển của bảo hiểm vẫn được coi là còn nhiều tiềm năng ở các quốc gia, góp phần giải quyết tình trạng thiếu việc làm cũng như các vấn đề xã hội liên quan.

2. Vai trò kinh tế của bảo hiểm

Thứ nhất, Bảo hiểm bù đắp tổn thất, khắc phục thiệt hại.
Bù đắp các tổn thất và khắc phục hậu quả thiệt hại từ rủi ro là tác dụng chủ yếu của Bảo hiểm. Các doanh nghiệp Bảo hiểm đã cung cấp các loại dịch vụ bảo hiểm nhằm khôi phục khả năng vật chất, tài chính như lúc ban đầu cho bên mua bảo hiểm khi có rủi ro xảy ra. Bảo hiểm giúp hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thấp có thể xảy ra, nhờ đó giảm thiểu những tác động xấu ảnh hưởng đến nền kinh tế và cộng đồng.
Thứ hai, Bảo hiểm sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi.
Đối với mỗi cá nhân phải luôn tính đến những rủi ro có thể gặp phải và muốn chủ động trong tình huống xấu như ốm đau, bênh tật, tai nạn. Đây là các khoản tiền nhàn rỗi. Tham gia Bảo hiểm thay vì lập quỹ dự phòng như thế sẽ giúp các cá nhân, gia đình khắc phục khó khăn về tài chính trước những biến cố bất thường có thể xảy ra với khoản tiền dành mỗi năm ra thấp hơn rất nhiều.
Thứ ba, Bảo hiểm tạo nên các quỹ tiền tệ lớn để đầu tư vào lĩnh vực khác đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.
Do đặc điểm trong kinh doanh bảo hiểm là phí bảo hiểm thu trước, việc bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm thường sẽ phát sinh một thời gian sau đó, nên các khoản tiền này phần lớn có thời gian tạm thời nhàn rỗi. Thông qua hoạt động bảo hiểm mà một lượng vốn lớn (phí bảo hiểm) phân tán, rải rác các nơi được tập trung về một nơi hình thành những quỹ tiền tệ lớn. Vì thế, các doanh nghiệp bảo hiểm có thể sử dụng số vốn này để đầu tư, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Khoản lợi nhuận từ hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ được họ giữ lại một phần và phần còn lại có thể chia lại cho người tham gia bảo hiểm (lãi chia hợp đồng) trong các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.
Thứ tư, Bảo hiểm giúp tăng thu ngân sách nhà nước .
Nhờ các dịch vụ bảo hiểm mà ngân sách nhà nước sẽ đỡ phải chi trả các khoản trợ cấp lớn để bù đắp những tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ hàng năm. Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm cũng đóng góp vào ngân sách nhà nước các khoản như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp. . . Ngoài ra, một thị trường bảo hiểm phát triển mạnh mẽ và ổn định sẽ thu hút các cá nhân và tổ chức mua bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, góp phần tiết kiệm một khoản ngoại tệ lớn cho ngân sách Nhà nước.
Thứ năm, Bảo hiểm góp phần ổn định tài chính và đảm bảo cho các khoản đầu tư.
Trong kinh doanh, các tổ chức phải bỏ ra một khoản tiền lớn lập quỹ dự phòng khi bỏ vốn đầu tư. Xét trên toàn xã hội, tổng các quỹ dự phòng sẽ là một khoản tiền không nhỏ, có khả năng sinh lợi rất lớn nếu được đem đi đầu tư. Bảo hiểm giúp nhà đầu tư yên tâm hơn khi quyết định bỏ vốn ra. Việc bồi thường, chi trả bảo hiểm đã giúp các tổ chức bảo toàn tài sản, tiền vốn của mình trước các rủi ro. Vì vậy, bảo hiểm có vai trò đảm bảo và khuyến khích đầu tư.
Thứ sáu, Bảo hiểm tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế
Hoạt động bảo hiểm còn hỗ trợ các hoạt động kinh doanh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy các hoạt động thương mại quốc tế. Nhiều hàng hóa dịch vụ có thể tiêu thụ thuận lợi trên thị trường khi có kèm theo các hợp đồng bảo hiểm những trách nhiệm phát sinh liên quan đến việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Nhờ đó góp phần tăng qui mô trao đổi hàng hóa và dịch vụ, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam ra nước ngoài, góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.

III. Phân loại

1. Công ty bảo hiểm nhân thọ

Đây là loại hình công ty hướng về mục tiêu đảm bảo một khoản tiền dự phòng cho người thân khi bản thân người sử dụng bảo hiểm xảy ra rủi ro, tích lũy tiền bạc khi về hưu, tích lũy cho con cái khi trưởng thành,…

a) Công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn

Đây là loại hình công ty bảo hiểm cho nhưng vấn đề không định trước được liên quan tài sản như:
– Mất mát, hư hỏng tài sản.
– Mất hay thiệt hại khả năng tạo thu nhập của tài sản.
– Thiệt hại hay thương tật gây ra cho chủ thể thứ ba.
– Thiệt hại hay thương tật do tai nạn nghề nghiệp.

Bảo hiểm nhân thọ

b) Khác biệt giữa công ty bảo hiểm nhân thọ với công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn

Trong thực tế, các công ty bảo hiểm thường kinh doanh cả hai loại bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm tài sản.
STT Nội dung Công ty bảo hiểm nhân thọ Công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn
1/ Đối tượng bảo hiểm Con người Tài sản
2/ Thời hạn bảo hiểm Trung và dài hạn, thường là 5,10,20 năm hoặc trọn đời Ngắn hạn, thường là 1 năm
3/ Nhân tố ảnh hưởng Tuổi, giới tính, nghề nghiệp, thời gian tham gia, số tiền bảo hiểm, lãi suất, tỉ lệ tử vong. Xác suất rủi ro, số tiền bảo hiểm, chế độ bảo hiểm.
4/ Định kì đóng phí Linh hoạt: đóng 1 lần hoặc định kì theo tháng, quý, 6 tháng hay năm Thường đóng trong một lần
5/ Quyền lợi Chi trả tiền bảo hiểm trong các trường hợp:
– Tử vong, thương tật toàn bộ vĩnh viễn.
– Ung thư, bệnh hiểm nghèo.
– Đáo hạn hợp đồng. Chỉ được bồi thường trong thời hạn hợp đồng khi có tổn thất xảy ra.
6/ Tính chất Vừa là bảo hiểm mang tính rủi ro, vừa mang tính chất tiết kiệm đầu tư. Mang tính chất rủi ro.

IV. Các tính chất cơ bản của ngành bảo hiểm:

1. Hợp đồng và chi phí bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm: là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm.
Bên mua bảo hiểm: là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng.
Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng.
Người thụ hưởng: là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người.
Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm. 
Chi phí bảo hiểm: là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

2. Hoạt động của công ty bảo hiểm:

Các công ty bảo hiểm thu phí bảo hiểm để thành lập nên quỹ bảo hiểm phục vụ cho mục đích bồi thường. Do hầu hết các khoản phí bảo hiểm đều được thu hết trước khi bồi thường nên công ty bảo hiểm có một khoảng thời gian từ dưới một năm cho đến hàng chục năm để sử dụng quỹ bảo hiểm. Tiền trong quỹ bảo hiểm khi chưa dùng để bồi thường sẽ được đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản hoặc đầu tư vào các hoạt động tài chính khác như góp vốn liên doanh, thành lập công ty chứng khoán, cung cấp các khoản tín dụng trực tiếp,…

3. Nguyên tắc quản trị:

a) Nguyên tắc lựa chọn nghịch

Chênh lệch thông tin: một bên đối tác không có đủ hiểu biết về đối tác khác tham gia vào giao dịch để có các quyết định phù hợp.
Lựa chọn nghịch: Đây là vấn đề chênh lệch thông tin diễn ra trước khi giao dịch xảy ra.
Những người có rủi ro tín dụng xấu lại là những người tích cực tìm kiếm các khoản cho vay. Do đó những đối tác có khả năng tạo ra hậu quả không mong muốn là những người muốn tham gia vào giao dịch nhất. Bởi vì lựa chọn nghịch làm tăng khả năng cho vay đến những người có rủi ro tín dụng xấu nên người cho vay có thể quyết định không cho ai vay nữa mặc dù vẫn có cơ hội đầu tư tốt và ít rủi ro.

b) Rủi ro đạo đức

Xảy ra sau khi thực hiện giao dịch. Người cho vay sẽ có rủi ro rằng người đi vay sẽ tham gia vào những hoạt động không nên làm theo quan điểm của người cho vay bởi vì chúng làm cho vay ít có khả năng được hoàn lại.
Ví dụ:Khi người đi vay đã nhận được tiền vay rồi, họ có thể tham gia vào các hoạt động rủi ro lớn( mang lại suất sinh lời cao nhưng cũng có khả năng phá sản cao), vì họ đang liều lĩnh chấp nhận rủi ro bằng tiền của người khác. Bởi vì rủi ro đạo đức làm giảm khả năng khoản cho vay sẽ được hoàn trả lại, người cho vay có thể sẽ quyết định không cho ai vay nữa.

c) Biện pháp giảm thiểu rủi ro

– Sàng lọc: Các công ty bảo hiểm cố gắng chọn lọc những người bảo hiểm tốt khỏi các đối tác kém. Để thực hiện được việc này cần phải có phương pháp tập hợp và phân tích thông tin có hiệu quả.
Ví dụ: Khi bạn nộp đơn xin bảo hiểm ô tô, nhân viên bảo hiểm đầu tiên sẽ hỏi bạn về hồ sơ quá trình lái xe của bạn, bao nhiêu lần phạm luật giao thông, có hay chạy vượt quá tốc độ cho phép, kiểu loại xe bảo hiểm, và có khi cả tính cách cá nhân của bạn,… dựa vào những điều này, công ty sẽ xem xét việc chấp nhận hay bác bỏ yêu cầu bảo hiểm của bản.

rủi ro bảo hiểm
– Phí bảo hiểm rủi ro hợp lý: Đối với công ty bảo hiểm, việc thu phí đối với từng mức độ rủi ro của một người được bảo hiểm là nguyên tắc quản lý bắt buộc. Lựa chọn mức thu phí tương ứng với từng đối tác khách hàng cụ thể là rất quan trọng dối với khả năng sinh lợi của công ty.
Ví dụ: Dựa vào tuổi tác, công ty sẽ phân loại ra các nhóm tuổi để tính phí bảo hiểm, chẳng hạn, cùng là hai người có hai hồ sơ quá trình lái xe như nhau xin đăng kí bảo hiểm ô tô nhưng người trẻ tuổi hơn sẽ bị thu phí cao hơn vơi lý do là: nhóm người trẻ tuổi thường dễ gây ra tai nạn nhiều hơn so với nhóm người lớn tuổi.
– Các điều khoản cam kết: Các điều khoản cam kết trong hợp đồng là công cụ quản lý giảm thiểu rủi ro đạo đức trong bảo hiểm. Các điều khoản này làm cho người giữ hợp đồng bảo hiểm nản lòng mà không thực hiện các hoạt động rủi ro để công ty bảo hiểm phải bồi thường.
Ví dụ: Công ty cho thuê xe máy hai bánh có thể yêu cầu cung cấp các mũ bảo hiểm cho người thuê để tránh mọi trách nhiệm liên quan với việc cho thuê xe.
– Phòng ngừa gian lận: Có trường hợp các cá nhân được bảo hiểm có ý gian dối và tìm cách khiếu nại đòi bồi thường bảo hiểm mặc dù các khiếu nại này là vô căn cứ. Có trường hợp những người không tuân theo các quy định của hợp đồng nhưng vẫn muốn có tiền bồi thường bảo hiểm, có người còn đưa ra những khiếu nại về những việc mà trong thực tế không xảy ra. Do vậy, các công ty bảo hiểm luôn phòng ngừa những trường hợp này. Chỉ có những người được bảo hiểm hợp lý và có căn cứ mới được thanh toán.
Ví dụ:Chủ xe ô tô mua bảo hiểm cho xe và khai báo tai nạn ngay sau khi mua trong thời gian rất gần với ngày đăng ký bảo hiểm thì nhân viên công ty Bảo Hiểm phải làm rõ tình trạng rủi ro xảy ra trước hoặc sau khi đăng ký bảo hiểm. Đây có thể là hành vi trục lợi bảo hiểm.
– Hủy bỏ hợp đồng: Có thể hạn chế rủi ro đạo đức bằng cách đe dọa hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm nếu người được bảo hiểm đang có các hoạt động vi phạm các điều khoản hợp đồng. Đây là biện pháp chủ động phòng ngừa hơn là đối phó.
Ví dụ: Nếu công ty bảo hiểm biết rằng bạn luôn lái xe vượt quá tốc độ cho phép thì họ sẽ yêu cầu hủy hợp đồng với bạn để tránh phải bồi thường thiệt hại.
– Đồng bảo hiểm: Khi người được bảo hiểm cùng gánh chịu một tỉ lệ phần trăm nhất định tổn thất với công ty bảo hiểm thì quá trình dàn xếp này gọi là đồng bảo hiểm.
Ví dụ: Về lĩnh vực y tế, các công ty bảo hiểm chỉ nhận chi trả 80% và người được bảo hiểm phải chi trả 20% hóa đơn thanh toán dịch vụ y tế.
– Giới hạn số tiền thanh toán bảo hiểm: Đây là nguyên tắc rất quan trọng trong quản lý bảo hiểm. Số tiền thanh toán bảo hiểm phải có giới hạn mặc dù khách hàng có thể sẵn sàng chi trả nhiều hơn để có thêm tiền bồi thường. Tiền thanh toán bồi thường bảo hiểm càng lớn thì người được bảo hiểm càng dễ tham gia vào rủi ro hơn. Do đó dễ xảy ra rủi ro đạo đức cho công ty hơn.
Ví dụ: Người ta chỉ giới hạn bảo hiểm sinh mạng trong một khoản tiền vừa phải để tránh trường hợp xảy ra rủi ro đạo đức, chẳng hạn, người được bảo hiểm muốn chết đi để gia đình người này được hưởng số tiền bảo hiểm.

4. Doanh thu

Doanh thu bao gồm phí bảo hiểm và thu nhập từ đầu tư của công ty bảo hiểm.
Các khoản đầu tư lớn của các doanh nghiệp bảo hiểm là trái phiếu quốc gia, tiền gửi ngân hàng. Phần còn lại là liên doanh, đầu tư chứng khoán và đầu tư trực tiếp trong cơ sở hạ tầng, phát triển kinh doanh và dịch vụ cuộc sống. Doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam đóng góp vào nền kinh tế và xã hội bằng cách tham gia nhiều hợp đồng lớn, chịu trách nhiệm lên đến hàng tỷ USD.
Bảo hiểm thương mại hay kinh doanh bảo hiểm đó là những hoạt động mà ở đó các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro trên cơ sở người được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro đã thỏa thuận trước trên hợp đồng. Khi các cá nhân hay doanh nghiệp muốn hạn chế rủi ro họ sẽ mua bảo hiểm bằng cách đóng phí bảo hiểm định kỳ nếu gặpsự cố thì các công ty bảo hiểm sẽ đứng ra chi trả.Việc tham gia bảo hiểm gắn liền với việc huy động các nguồn tài chính thông qua sự đóng góp của các tổ chức và cá nhân tham gia bảo hiểm. Đó chính là nguồn doanh thu của các doanh nghiệp bảo hiểm.
Ví dụ: Đối với các doanh nghiệp, tham gia bảo hiểm giúp các doanh nghiệp bằng việc bỏ ra một khoản phí bảo hiểm ổn định và nhỏ có thể hoán chuyển rủi ro – những yếu tố không ổn định và tổn thất không lường trước được sang cho nhà bảo hiểm. Nhờ vậy, các doanh nghiệp an tâm sản xuất và khi có những tổn thất xảy ra, bồi thường bảo hiểm sẽ giúp họ nhanh chóng khôi phục quá trình kinh doanh.
Lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí (chi phí liên quan, chi phí bồi thường).
Khi các cá nhân hay tổ chức tham gia bảo hiểm là tự họ muốn giảm bớt rủi ro nhưng không phải rủi ro lúc nào cũng xảy ra vì vậy nguồn lợi nhuận mà các công ty bảo hiểm nhận được chính là phần chênh lệch giữa các nguồn thu bảo hiểm với phí mà công ty bảo hiểm phải bỏ ra để chi cho những rủi ro mà khách hàng gặp phải.
Ví dụ: Khi mua bảo hiểm tai nạn, hàng tháng bạn sẽ phải đóng một số tiền nhất định vào để duy trì bảo hiểm.Nếu như bạn gặp sự cố mà theo cam kết được chi trả thì bạn sẽ được các công ty bảo hiểm chi trả tiền cho tổn thất từ sự cố.Phần chênh lệch giữa phí mà bạn đóng và số tiền mà bạn được chi trả khi gặp sự cố là lợi nhuận mà công ty bảo hiểm nhận được.
Thực tế, trong giai đoạn 2011-2014, thị trường bảo hiểm đã đạt mức tăng trưởng trên 12,7%/năm, riêng năm 2014, tổng doanh thu của thị trường bảo hiểm là 67.169 tỷ đồng, chiếm 2,44% GDP.

5. Đảm bảo Chính phủ

– Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và các tổ chức kinh doanh bảo hiểm.
– Nhà nước đầu tư vốn và các nguồn lực khác để doanh nghiệp nhà nước kinh doanh bảo hiểm phát triển, giữ vai trò chủ đạo trên thị trường bảo hiểm.
– Nhà nước có chính sách phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, chính sách ưu đãi đối với các nghiệp vụ bảo hiểm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là chương trình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp.

6. Chính sách điều hành

Các chính sách tác động:
– Vốn điều lệ: Vốn điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải luôn duy trì mức vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định.
– Mức vốn pháp định của doanh nghiệp bảo hiểm:
+ Kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ: 300 tỷ đồng Việt Nam;
+ Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ: 600 tỷ đồng Việt Nam.
– Phương pháp đánh giá tài sản cho các mục tiêu báo cáo.
– Các xu hướng đầu tư.
Hiện tại, thị trường bảo hiểm Việt Nam cũng được đánh giá là bắt đầu tạo cơ hội cho sự cạnh tranh. Sự ra đời của công ty bảo hiểm là một bước chuyển hết sức mạnh mẽ trong thị trường bảo hiểm Việt Nam ở cả hai lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Nhìn vào giới kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam, có thể thấy đủ các thành phần:
– 3 công ty bảo hiểm sở hữu nhà nước,
– 3 công ty bảo hiểm cổ phần,
– 4 công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài,
– 7 công ty liên doanh (trong đó có 4 công ty hoạt động trong lĩnh vực bảo hiFểm nhân thọ, 2 công ty môi giới bảo hiểm).
Việc mở cửa thị trường bảo hiểm thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã mở ra cho nghành bảo hiểm nhiều cơ hội đầu tư, đảm bảo đa dạng hóa lựa chọn và nâng cao chất lượng phục vụ người tiêu dùng. Việc đầu tư của các công ty bảo hiểm được điều hành chủ yếu từ các cơ quan cấp trung ương nhằm đảm bảo độ tin cậy cũng như tính an toàn của hoạt động ngành.

>>> Xem thêm: học kế toán ở đâu tốt nhất

Các vấn đề liên quan trực tiếp đến công ty Bảo hiểm
5 (100%) 1 vote

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *